Logo

Bạn Đọc Viết

Ngày cập nhật: (08/03/2013, 06:39, pm)

Nhìn đất nước Việt Nam đang rơi vào tình thế giống như thời kỳ của ông Nguyễn Trường Tộ, nên muốn giới thiệu bài viết của Thanh Hải: "Nguyễn Trường Tộ và khát vọng canh tân". Qua bài viết này cũng muốn gửi đến các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam một thông điệp: "Hãy biết lắng nghe những lời tâm huyết của các nhà trí thức và các vị lãnh đạo tôn giáo mà bỏ điều 4 HP, bỏ cái triết học Mác - Lênin để khỏi mắc phải những sai lầm như đã từng xảy ra trong lịch sử".


Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 (tức năm Minh Mạng thứ 9), trong một gia đình Công giáo, quê làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).


Ham học hỏi và lĩnh hội tri thức


Từ nhỏ ông đã được Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauchier) dạy cho tiếng Pháp cùng với các môn khoa học thường thức của Tây phương. Ngoài ra, ông lại được cho đi du học ở nhiều nơi như Singapore, Malaisia, Pháp, La Mã... Trong những chuyến đi đó, ông đã tìm tòi và lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học mới, trong lòng nung nấu đem những điều mình đã học hỏi được về phục vụ cho lợi ích nước nhà.


Tháng 6 năm 1864 (tức tháng 5 năm Tự Đức thứ 17), ông có bài viết bày tỏ mục đích về những lần xuất ngoại của mình: "Từ 15 năm nay, tôi đã biết rõ tất phải có mối lo như ngày hôm nay, nên tôi đã ra sức tìm tòi học hỏi trí khôn của mọi người để thêm sự hiểu biết cho mình".

Trong bản Trần tình (8/5/1863) ông lại viết: "Về việc học thì không môn nào không để ý tới, cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu".


Ngày mùng 9 tháng 3 năm 1867 (tức ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức thứ 21), ông lại viết tiếp: "Mấy chục năm nay tôi bôn ba trong thiên hạ, thu thập những tình thế biến đổi xưa nay, đem những điều đã học trong sách nghiệm ra việc đời. Đã trao đổi với ai một lời nói, một câu chuyện thì thâm tâm tôi cũng có ý muốn thu lấy sự hiểu biết của người làm của mình". Nhờ có lòng ham học hỏi và ý thức học tập một cách nghiêm túc nên Nguyễn Trường Tộ đã có một sự hiểu biết rất sâu rộng.


Những bản điều trần và khát vọng canh tân


Cũng vì mến mộ tâm lực của ông trong việc xây cất tu viện ở Sài Gòn nên trong Ký sự của dòng thánh Paul (Phao Lô) đã có những đoạn chép hết lòng ca ngợi: "Ông rất thông minh linh hoạt và vô vị lợi đến mức tuyệt đối, vì ông không nhận một đồng lương nào, chỉ ăn cơm không và tiêu vặt chút ít. Không có ông chúng tôi không bao giờ xây dựng được những tu viện, nguyệt đường...". Đó là chưa kể đến việc ông giúp tổng đốc Hoàng Kế Viêm (khi ông đã về Nghệ An) hoàn thành việc đào Kênh Sắt,  xây dựng các cơ sở Nhà chung Xã Đoài (1868) và giúp dân làng Xuân Mỹ dời dân tránh khỏi vùng khí hậu khắc nghiệt.


Tháng 5 năm 1863 ông đã soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước. Với Tế cấp luận ông đã khẳng định: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".


Ở bản Giáo môn luận, ông dùng những lý lẽ của trời đất và các chứng cớ lịch sử để kêu gọi Triều đình phải có chính sách bao dung, nhân ái đối với những tín đồ Công giáo. Thế nhưng đứng trước tình thế bất lợi (Triều đình Huế đã kí hòa ước 5/6/1862 nhưng không muốn thi hành hay sửa đổi), Nguyễn Trường Tộ nhận thấy rằng chúng ta cần phải tạm thời hòa hoãn để củng cố mọi mặt đất nước, sau đó sẽ dốc lực đấu tranh, trong bối cảnh đó, ông đã viết Thiên hạ phân hợp đại thế luận.


Sau ba bản điều trần trên, Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi nhiều bản khác lên Triều đình Huế (có 58 di thảo gửi cho Triều trình, liên tục trong vòng 10 năm). Những bản điều trần của ông là những đề nghị tâm huyết nhằm góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng phong bế, lạc hậu và tạo nên sự thay đổi lớn lao bên trong, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhìn vào nội dung các bản điều trần, chúng ta nhận thấy Nguyễn Trường Tộ đã đi trước, và vượt lên trình độ của các tầng lớp trí thức nho sỹ đương thời.

Song thật tiếc, những dòng tâm huyết ấy lại không được chấp nhận do hạn chế của thời đại. Trước hết, do đất nước đang ở trong tình thế nước sôi, lửa bỏng: bên ngoài giặc đánh Đà Nẵng, chiếm Gia Định, chiếm ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây, nội tình thì loạn lạc (loạn Đoàn Trưng khiến Tự Đức suýt mất ngôi).


Mặt khác, do cái nhìn hạn hẹp của các quan chức đầu triều lúc bấy giờ (kể từ thời Gia Long, bộ phận đầu não của Triều đình đều là những người già bảo thủ nên bất cứ việc gì vua hỏi cũng đều phân vân không dám quyết, hoặc quyết theo hướng đóng cửa, làm tăng thêm những mâu thuẩn, xung đột). Và kết cuộc sự đợi chờ của ông cũng chỉ là vô vọng. Không những thế, ông lại còn bị Triều đình nghi ngờ là có quan hệ với Pháp (vì ông là tín đồ Công giáo, lại có thời gian làm việc cho Tây soái ở Nam Kỳ).


Ngày mùng 8 tháng 5 năm 1863 ông đã viết bản Trần tình bộc lộ những suy nghĩ và khát vọng của mình về thế cuộc, giãi bày tấm lòng mình, một hai đều vì nước nhà, dù công danh, tiền bạc cũng không làm lay chuyển được tấm lòng của ông.


Trần tình có đoạn viết: "Sau đó, tướng Bonard sang, tôi thấy ông ta có những hành động ngược lại sự bàn hòa, tình thế đã khó lại khó thêm, tôi mới quyết ý xin thôi không làm nữa. Họ không chịu xét. Tôi nhất định từ, không nhận bổng lộc, ai cũng cười là ngu. Mặc dầu họ có sai người đến cố nài ép trao cho tôi, tôi cũng bỏ đi. Thấy lòng tôi quyết định, chí tôi vững, họ lại đem quan chức ra dụ tôi. Tôi nói: Nhận quan chức thì được bổng lộc, không nhận thì dù bần cùng đến phải làm đứa ăn xin chứ không chịu theo mà phụng sự cho họ".


Mặc dù không được Triều đình trọng dụng, nhưng lòng ông vẫn luôn hướng về, vẫn mong được phò vua, cứu dân. Tấm lòng ấy thể hiện rất rõ qua những bài thơ mà ông để lại: "Mặt trời cho dẫu không soi đến/Hướng dương xin vẫn nếp hoa quỳ" và ở hai câu thơ khác: "Ngụy Tào sống gửi Từ Nguyên Trực/Tần Lã không thờ Lỗ Trọng Tiên".


Nguyễn Trường Tộ cả một đời vì đất nước, vì nhân dân nhưng khao khát của ông không hề được toại nguyện. Ông ra đi giữa tuổi xanh tràn đầy nhiệt huyết (ông mất ở tuổi 43, trên quê hương mình tại Giáo xứ Xã Đoài). Thiết nghĩ rằng nếu ông chưa vội ra đi, nếu những bản điều trần đó được thực thi thì lịch sử Việt Nam sẽ có những bước ngoặt lớn: không lâm vào cảnh mất nước và đời sống nhân dân thời bấy giờ phải khốn khổ, tình hình phát triển đất nước không bị tụt hậu như đã có trong lịch sử.


Và để khi vĩnh biệt cõi đời này, ông đã không phải nuối tiếc mà than thở rằng: "Một lỡ bước đi, muôn thuở hận/Ngoảnh đầu nhìn lại đã trăm năm".


Thanh Hải

 

 

Đọc thêm một bài viết trên trang: lamhong.org


Nguyễn Trường Tộ – nhà kiến trúc tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XIX

  

Thế là Nguyễn Trường Tộ đã nằm dưới mộ 120 năm tròn. Nhưng với những người như ông thật đúng “thác là thể phách, còn là tinh anh”. Chẳng thể yên tâm để lên thiên đàng hay cực lạc, hồn ông như vẫn quẩn quanh cùng Đất Nước, vẫn canh cánh một nỗi niềm dân tộc, một nỗi đau nghèo nàn, một nỗi nhục lạc hậu. Đứng trước mộ ông, nghiêng mình thắp nén hương lòng tưởng niệm, cứ cảm thấy như hiền hiện đâu đây cái hình ảnh ông nằm ốm liệt giường, một ngửa lên trời mà ngọn bút lông vẫn viết đều trên những bản điều trần.


Nhân vì chân tôi bị tê bại sắp thành phế nhân, nằm ngửa ra mà viết, tinh thần buồn bực rối loạn, tự biết nói năng không thứ tự. Nhưng tất cả đó là sự thật” (Di thảo số 6).


Nói năng như thế là khiêm nhường. Sự thật, tất cả những điều trần Nguyễn Trường Tộ đều rất thứ tự, rất toàn diện, rất hệ thống và đặc biệt là rất trí tuệ. Với tư cách một người trí thức nhiệt tình bàn việc nước, hầu như ông đã bàn không sót một vấn đề hệ trọng nào, không lĩnh vực nào không đề xuất những ý tưởng mới lạ, độc đáo, bổ ích. Chính trị, quân sự, ngoại giao, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, cải cách phong tục, cải cách giáo dục, khoa học kỹ thuật… ông bàn tất, bàn một cách thấu đáo, sáng suốt lạ lùng.


Không ít người cho rằng chẳng nên khen ông nhiều. Đúng, vì dầu sao họ chỉ thấy ông là một trí thức Công giáo. Cũng không ít ý kiến bảo rằng chẳng nên đề cao ông làm gì. Đúng, đề cao bao nhiêu chăng nữa cũng chẳng lợi lộc gì cho nắm xương tàn đã nằm sâu dưới mộ. Nhưng không nói đến ông sao được. Còn phải nói thật nhiều và phải bàn thật kỹ về ông. Vì rõ ràng đây không phải chỉ là bàn về Nguyễn Trường Tộ, một người trí thức yêu con người, yêu đất nước, suốt đời đã đem hết trí tuệ, tâm lực của mình cống hiến cho sự phát triển của dân tộc, mà đây chính là bàn về một tư duy cấp tiến, một trí tuệ sáng suốt, một tầm vóc tư tưởng Việt Nam.


Thử ngẫm nghĩ và so sánh một chút để thấy Nguyễn Trường Tộ của Việt Nam chúng ta quả thật là vĩ đại nhường nào. Tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ đến trước tư tưởng canh tân của Khang Hữu Vi – Lương Khải Siêu (Trung Quốc) là tiền đề cho sự phát triển của Trung Quốc sau này. Tư tưởng Nguyễn Trường Tộ – Việt Nam là ngang tầm với tư tưởng Y-đằng-bác-văn (Nhật Bản). Mà tư tưởng Y-đằng-bác-văn (Ito Hirobumi) được thực thi đã tạo ra một Nhật Bản hùng cường như ta đã thấy. Đáng tự hào lắm chứ! Chỉ tiếc rằng đã có những cái đầu Nguyễn Trường Tộ biết nghĩ nhưng lại thiếu những cái tai Tự Đức biết nghe. Bi kịch dân tộc diễn ra bắt đầu từ đấy! Cả thế giới ngày nay xôn xao chuyện đổi mới. Đổi mới là chuyện sống còn, là nhu cầu của mỗi dân tộc, mỗi đất nước. Thế mà vào thập niên 60 của thế kỷ trước, một Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất chủ trương đổi mới. Đủ hiệu Việt Nam mình đâu có thiếu đầu óc nhạy bén và tư tưởng kiệt xuất. Hãy nói riêng chuyện mở cửa để giao lưu kinh tế và văn hóa của thế giới, từ 120 năm trước, Nguyễn Trường Tộ đã dõng dạc cả quyết: “Nên mở cửa chứ không nên khép kín”. Ông đã đem gương Trung Quốc và Nhật Bản cho vua quan triều Nguyễn soi nhưng họ đều nhắm mắt làm ngơ. Về Trung Quốc, ông nói:


Đến nay, họ (tức Trung Quốc) lại thuê mướn nhiều người phương Tây, lập xưởng chế tạo khí cụ và làm đại sứ. Họ còn sai nhiều sứ thần giao thông với các nước lớn để bủa kế liên hoành. Tất cả những việc họ làm, người phương Tây trông thấy đều nguội lòng. Thử xem từ triều Minh về trước, nước ấy hãy còn bế quan tỏa cảng mà nay được khí thế như vậy là đều nhờ lợi ích của việc ngoại giao cả. Chẳng biết do đâu mà triều đình nhà Thanh lại hết lòng tin dùng người phương Tây như thế. Sự thật không thể hiểu được. Nước ta xưa nay mọi việc đều bắt chước Trung Quốc mà chỉ có một kế hoạch lớn là giao thông với cường quốc là ta không nghe theo, có phải toan lập được một mưu kế kỳ diệu riêng hơn hẳn Trung Quốc một bậc chăng?”


Hỏi vậy thôi, chứ Nguyễn Trường Tộ cũng thừa biết vua quan triều Nguyễn bấy giờ làm gì có cái gọi là “mưu kế kỳ diệu”. Giặc đã vào trong nhà nhưng vua tôi vẫn rung đùi ngâm thơ xướng họa, vẫn lấy Đường Nghiêu Ngu Thuấn làm khuôn vàng thước ngọc, vẫn khinh các cường quốc phương Tây là mọi rợ nên gọi là Tây di. Nhét được tư tưởng đổi mới vào những cái đầu đặc sệt tư tưởng Tống Nho thật tình còn khó hơn tìm đường lên trời. Vua quan triều Nguyễn lại còn Tống nho hơn cả Trung Quốc, nơi đã sản sinh ra cái học thuyết khốn khổ đó, vẫn tiếp tục bảo nhau “cái phép cũ của tiên vương không được thêm bớt” (lời Tự Đức). Cho nên cái gương duy tân của Nhật Bản to như thế, sáng như thế mà đâu có thèm soi. Chỉ riêng cái kế sách dùng ngoại giao đa phương, dùng các thế lực cường quốc chế ngự lẫn nhau mà giữ thế cân bằng ổn định cũng chẳng chịu nghe theo, hỏi còn sáng suốt ở chỗ nào?


Lại nhìn xem Nhật Bản xưa vốn là lũ người lùn, từ trung diệp nhà Minh mới bắt đầu giao hảo với Hà Lan, làm bạn với Bồ Đào Nha, kế đến mời Hợp Chủng Quốc giúp vào việc nước, mở mắt nhìn rộng rãi, thiên hạ mới có được chí hướng lớn như vậy. Từ đó họ đóng tàu bè, luyện tập võ bị, ưu tiên phát triển thương nghiệp, công nghiệp, đất nước mỗi ngày một mạnh, được khen với mỹ danh là Tiểu Tây và Trung Quốc khó bắt được Nhật Bản phải thần phục. Tuy gần đây Anh, Pháp thường hay quấy nhiễu nhưng nhờ có nền nội trị ngoại giao vững vàng mà họ không chịu hạ mình. Như trước đây 3 năm, Anh Pháp đem binh thuyền đến toan đàn áp, nhưng nhờ có Hợp Chủng Quốc, Hà Lan phân giải nên việc đã không xảy ra. Đó không phải là công dụng của sự giúp đỡ của các nước hay sao? Còn như ngày nay, nước ấy có những kế hoạch giao thiệp rộng rãi, những mưu cơ tân tiến thì đâu đâu người ta đã nghe thấy rõ ràng, gương ấy không xa, không cần phải nêu ra nữa” (Di thảo số 55).


Tầm nhìn, tầm nghĩ của Nguyễn Trường Tộ như thế đó!


Đã có một thời, một số sử gia cứ nói liều rằng Tây mạnh, ta yếu, việc mất nước là “tất yếu” (?). Vậy chẳng lẽ cái chuyện mọi lũ vua quan cầm quyền không chịu nghe theo Nguyễn Trường Tộ cũng lại là điều “tất yếu”?


Giờ đây, đọc lại các di thảo Nguyễn Trường Tộ, tôi càng thấy thán phục và tự hào, lòng cứ tự hỏi lòng: ở thế kỷ XIX mà sao dân tộc Việt Nam mình đã có một trí tuệ đến tầm cỡ như vậy? Nguyễn Trường Tộ đúng là một nhà tư tưởng chiến lược. Ông đã đi trước thời đại của mình hàng thế kỷ. Chúng ta có trách nhiệm nghiên cứu toàn bộ di sản tư tưởng của ông để rút ra những bài học cho hôm nay. Đặc biệt chính sách mở cửa càng phải tính toán thật kỹ và thực hiện thật tốt vì đây là một chính sách lớn cực kỳ quan trọng, có tính chất quyết định đến toàn bộ sự phát triển của đất nước trong thập niên 90 này và chuẩn bị cho những bước nhảy mới vào thế kỷ XXI. Tất nhiên, không phải tất cả những gì Nguyễn Trường Tộ để lại đều đúng, đều còn thích hợp với hiện tại. Cái chính là ta phải học cái phương pháp tư duy của ông: dũng cảm phê phán cái sai, cái lỗi thời và hăng hái đề xuất cái mới, cái đúng đắn, không ngừng tìm hiểu dân tộc và thời đại, tìm mọi biện pháp thúc đẩy cho đất nước phát triển.


Và điều quan trọng nhất, theo tôi, phải nghiên cứu và học tập cái nhân cách văn hóa Nguyễn Trường Tộ. Đã hơn một lần tôi mạo muội trình giới nghiên cứu một cái định nghĩa về nhân cách. Thế nào là một người có nhân cách văn hóa. Đó là một người biết thương yêu đồng loại và không ngừng giúp đỡ cho đồng loại phát triển.


Đó là nói về định tính. Còn một nhân cách văn hóa lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào cái định lượng “thương yêu” và “giúp đỡ”. Nếu nhất trí với tiêu chuẩn như vậy thì Nguyễn Trường Tộ đứng trong hàng ngũ những người có nhân cách văn hóa lớn. Nguyễn Trường Tộ là một danh nhân văn hóa lớn của dân tộc.


Có thể nhận xét thêm rằng tuy cũng xuất thân từ cửa Khổng nhưng Nguyễn Trường Tộ đã dần dần xa lìa lối suy nghĩ Tống Nho. Ông đòi hỏi mọi việc làm phải thiết thực, phải thích nghi và đáp ứng nhu cầu phát triển của dân tộc. Ông không chấp nhận lối suy nghĩ giáo điều, trì trệ, rập theo khuôn sáo cổ nhân.


Không được phép phủ nhận quá khứ, nhưng ngược lại cũng không nên coi tất cả quá khứ là mẫu mực rồi răm rắp tuân theo, vì như thế lại mắc một sai lầm khác nghiêm trọng hơn: phủ nhận hiện tại.


Thật đáng khâm phục cái nghị lực phi thường của Nguyễn Trường Tộ! Giữa một xã hội đặc sệt tư tưởng Tống Nho giáo điều trì trệ. Ông đã viết hàng trăm bản điều trần đề xuất kế sách giữ nước và dựng nước với những ý tưởng mới lạ, táo bạo. Suốt đời, ông đã tâm niệm: “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”. Có lẽ, ông là người Việt Nam duy nhất bấy giờ ý thức được đầy đủ về cái năng lượng của tư duy và ngôn từ của mình. Khác hẳn với tâm trạng bất lực của trí thức dỏm nhiều thời: “Một mình mình nói thì ăn thua gì, ai nghe?” hoặc “ăn cái giải gì mà nói”. Người trí thức thứ thiệt luôn luôn hiểu rõ trách nhiệm của mình trước vận mệnh của dân tộc và đất nước, lại ý thức được giá trị của năng lượng tư duy. Rõ ràng cái năng lượng tư duy của Nguyễn Trường Tộ vẫn được bảo toàn và dọc theo thời gian vẫn truyền đến tận chúng ta hôm nay.


Nhiều nhà nghiên cứu đã tỏ lòng thông cảm và đau xót cho Nguyễn Trường Tộ. Riêng tôi, tôi thấy cần đau xót cho cả dân tộc. Vì thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là thất bại của trí tuệ dân tộc trong một giai đoạn lịch sử với một thế lực cầm quyền ngu muội. Hẳn cũng chẳng nên quy hết trách nhiệm và tội lỗi cho vua quan triều Tự Đức. Cái tấn thảm kịch của dân tộc vào cuối thế kỷ XIX chẳng qua là kết thúc một quá trình trì trệ hàng nghìn năm của một xã hội tiểu nông lạc hậu, lại thêm các giai cấp thống trị phong kiến Việt Nam tính từ Lý – Trần về sau đã không ngừng rập khuôn mọi thiết chế chính trị, kinh tế, giáo dục… của Trung Quốc hay nói khác đi là giai cấp phong kiến thống trị Việt Nam đã không ngừng Tống Nho hóa mà tới triều Nguyễn thì đạt đến tột đỉnh.


Thiết tưởng cũng nên chú ý tới một nguyên nhân sâu xa khác: Nguyễn Trường Tộ không phải là người nắm quyền lực để chỉ đạo ngay việc thực thi mọi kế hoạch cải cách như Y-đằng-bác-văn ở Nhật Bản. Do đó, một vấn đề cần đặt ra để giải quyết là: làm thế nào để những tư tưởng Nguyễn Trường Tộ có thể quyền lực hóa? Hay nói khác đi: mọi quyền lực cần phải được Nguyễn Trường Tộ hóa. Như thế mới hy vọng tránh cho dân tộc và đất nước thoát khỏi những thảm kịch.


Hy vọng đẩy mức sống của nhân dân lên cao dần là có thể thực hiện được; dăm trăm dollar một đầu người là có thể đạt được. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là đảm bảo được sự hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, nghĩa là trong hoàn cảnh nào cũng phải gắng giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc cho từng người dân của đất nước. Mặt khác, vẫn ở lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, dân tộc ta còn có trách nhiệm chi viện cho bè bạn và trao đổi kinh nghiệm với các dân tộc thuộc thế giới thứ ba.


Chúng ta biết ơn Nguyễn Trường Tộ vì ông là một trong những kiến trúc sư tài ba đã góp phần xứng đáng trong công cuộc xây dựng lâu đài văn hóa tư tưởng Việt Nam. Đặc biệt, tư tưởng Nguyễn Trường Tộ đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của tư tưởng Việt Nam từ phạm trù tư duy tiểu nông sang phạm trù tư duy công nghiệp. Đó là điều khác biệt giữa ông với những danh nhân nước ta đến trước ông. Điều đáng mừng là Nguyễn Trường Tộ vẫn đang song hành cùng dân tộc, giúp sức dân tộc tạo ra những bước tiến mới để có một vị thế xứng đáng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương vào thế kỷ tới. 


Trần Khuê
Kỷ yếu hội thảo khoa học “Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân đất nước” của Trung tâm Nghiên cứu Hán Nôm – 1993

 


 

You need Flash player 8+ and JavaScript enabled to view this video.